Wednesday, April 30, 2008

Entry for May 01, 2008

I really know

Who I am

What I need

And

How I do

Even though

Sometimes

I am confused

Almost...

Everything

Monday, April 28, 2008

Entry for April 29, 2008 bài học ‘thế nào là nhân bản’

Tôi đã ngồi yên khá lâu sau khi đọc xong bài viết này (phần trích dưới đây chỉ là phần “Tháng Tư, 1865”, phần còn lại-“Tháng Tư, 1975”, thiết nghĩ mỗi người đều có cho mình một suy nghĩ khác nhau).

Và tôi nghĩ: mình đã học thêm được 1 bài học ‘thế nào là nhân bản’

Tháng Tư, 1865 - Tháng Tư, 1975

Phan Quang Tuệ - Ðỗ Thái Nhiên

Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Ðại Tướng Robert Lee thống lãnh quân đội miền Nam cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh Bộ Chỉ Huy trong một cánh rừng gần Tòa Thị Xã Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge nơi mà Tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi Tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appamatox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về... Tất cả hy vọng của Tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của Tướng Grant, thống lãnh quân đội miền Bắc, bước vào phòng riêng của Tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến Tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của Tướng Grant. Sau cùng Tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ Tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hòa”, Tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Ðại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hòa hay chiến.” Nhưng bức thư của Tướng Grant chưa kịp đến tay Tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.

5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appamatox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng Chủ Nhật, 9 Tháng Tư, 1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền Nam. Từng đợt tấn công của Tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phía bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, của hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phía sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và chém vè cũng không được. Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, Tướng Lee được tin khấp báo của Tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Ðại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”.

Lập tức Tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hòa hay chiến.

Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước Tướng Grant”.

Nơi được chọn để nghị hòa là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appamatox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phía Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và tòa thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc Tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tùy viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.

Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và Tướng Grant bước vào. Khác hẳn với Tướng Lee, Tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.

Theo lời yêu cầu của Tướng Lee, Tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau đó tự tay trao cho Tướng Lee xem lại.

Chậm rãi, từ tốn, Tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.

“...Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”

Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của Tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra tòa truy tố về tội phản loạn.

Tướng Lee nói, “Thưa Ðại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.”

Và Tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam của tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”

Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngựa và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho Tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, Tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam. Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”

“Thưa quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.

Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Tướng Grant, bắt tay Tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.

Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hòa. Khi ngựa Tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh Tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.

Tin đồn đầu hàng của Tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Các súng ống, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng Tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nổi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, Tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Ðiều quan trọng với Tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.

4:30 chiều ngày 9 Tháng Tư, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Ðốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của Tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”

Cách đó không bao xa, Tướng Lee cỡi ngựa trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, Tướng Lee hướng về họ và nói: “Ta đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng ta nặng trĩu và không thể nói gì hơn”.

Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các ngươi hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các ngươi đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và Tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.

Ðiều kiện đầu hàng được hai Tướng Lee và Grant ký kết tại Appamatox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 Tháng Tư mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.

Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phía Ðông rừng Appamatox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là Tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.

Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là Tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Ðại Tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.

Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một dòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Ðây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.

Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, Tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.

Phía đối diện, Tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một giáng điệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

Friday, April 25, 2008

Entry for April 26, 2008 30 tháng 4

Tôi không phải là người thích nói chuyện chính trị. Nhưng thực sự tôi đang bị ám ảnh bởi lịch sử dân tộc mình. Vinh quang và chiến thắng. Đau thương và tủi hận. Đâu thực sự là trang sử cho Việt Nam mà tôi biết?

33 năm trước, tôi được dạy và được hiểu về ngày 30 tháng 4 năm 75 là Ngày Đại Thắng đã đi vào lịch sử chói ngời của dân tộc và lịch sử nhân loại. Đó là ngày đẹp nhất , ngày khắp non sông đất Việt rợp cờ hoa, muôn triệu trái tim cùng rung một nhịp với âm vang của một bài ca: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng...”. Thực sự tôi đã từng cảm nhận và hình dung ra một không khí hừng hực lửa tiến công của cả một đoàn quân mạnh như vũ bão, tiến về Sài Gòn “quét sạch giặc thù”…Tôi như thấy cả một bầu không khí rộn rịp cờ hoa, cảm xúc dâng tràn khi nghe các hành khúc “Sài Gòn quật khởi” hay “Tiến về Sài Gòn”.

Gần 3 năm sau này, kể từ ngày tôi định cư nơi đây, 30 tháng 4 với phần lớn người Việt lại là Ngày Quốc Hận. Vào những ngày này, tôi không thể tìm thấy những nụ cười và gương mặt rạng rỡ chiến thắng của người lính và người dân như tôi từng xem trên TV khi còn ở VN. Thay vào đó là nước mắt, là câu chuyện của những người thua trận… và tôi cũng bị cuốn hút vào những nỗi niềm đó.

Tôi đọc những bài viết, tôi nghe người trong cuộc kể về những ngày cuối cùng của tháng 4, 75 và tôi khóc…

Tôi đã bắt đầu biết đến những câu chuyện gọi là “Hành Trình Biển Đông”, những câu chuyện của các thuyền nhân - những người chấp nhận liều thân ngoài biển để tìm một đường sống mong manh. Đó những câu chuyện mà mắt tôi luôn nhòa nhoẹt sau khi đọc xong, nhưng vẫn phải cố đọc để hiểu thêm về dân tộc mình.

Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối trước đó." (Report: Mekong River Crossing, 1978 )

Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. "Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì", cô vừa kể vừa khóc nức nở "Tôi van xin chúng đừng làm gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó." ( Refugee : Malaysia, 1979 )

Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực Nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba. Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì với máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lạị. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối,." (UNHCR: 1979 )

Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời VN đã bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được bờ. (Delegates of 'Society of Friends': - Pulau Bidong, 1979 " Georgina Ashworth - The boat people and the road people)

Đó chưa hẳn là những câu chuyện bi thiết nhất mà tôi đã đọc. Có những lúc tôi phải tắt radio vì không thể chịu đựng được… Khủng khiếp quá!

Rồi tôi lại bị ám ảnh bởi những gì tôi được biết về Tết Mậu Thân, về “Bài Ca Dành Cho Những Xác Người” của TCS:

Xác người nằm trôi sông, phơi trên ruộng đồng, trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co

Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa, trong giáo đường thành phố, trên thềm nhà hoang vu

Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này, bên xác người già yếu có xác còn thơ ngây

Xác nào là em tôi dưới hố hầm này trong những vùng lửa cháy bên những vồng ngô khoai

Tôi miên man trong những cảm xúc rất khó tả. Những được mất của chiến tranh. Sự tan rã của lòng người.

Tôi từng được dạy người lính bộ đội khao khát như thế nào về 2 chữ thống nhất và tự do. Vì nó mà họ bất chấp tất cả để chiến đấu và hy sinh.

Giờ đây, tôi cũng hiểu người lính VNCH cũng sẵn sàng xả thân vì lí tưởng tự do mà họ tôn thờ.

Người lính thời nào, ở đâu cũng có cho mình 1 lí tưởng, vì lí tưởng đó mà họ bất chấp mạng sống.

Nhưng cuối cùng… vinh quang thuộc về ai?

Những người đầu tiên di tản khỏi SG vào những ngày cuối tháng 4 có là lính chăng?

Những công trạng khen thưởng khi ‘giải phóng’ được miền Nam có phải là cho người bộ đội?

30 tháng 4, cuối cùng là cái gì đây?

Tôi không có trong lòng sự thù hận của 1 thể chế chính trị nào. Tôi tin vào những nỗi đau, những mất mát mà cả 2 phía đều gánh nhận. Tôi trân trọng những kí ức, những hoài niệm về một thời đã qua của mỗi người lính ở cả 2 chiến tuyến. Họ là nạn nhân của lịch sử chiến tranh.

30 tháng 4, có những niềm vui vô hạn, nhưng cũng có những nỗi buồn vô biên…

Và tôi chợt nhận ra rằng phải chăng cuộc chiến chống ngoại bang dễ hơn nhiều và ít đau đớn hơn nhiều so với cuộc nội chiến của dân tộc tôi: 33 năm rồi, người Việt Nam tôi vẫn tự bắn vào nhau ở khắp nơi!

33 năm, người Việt Nam tôi vẫn còn thổn thức những nỗi đau…

Tuesday, April 22, 2008

Entry for April 23, 2008 Lý lẽ của con

Tui có thằng con trai 6 tuổi, nói như con két, lý sự như... luật sư!

Thêm cái ở đất Mỹ này, dạy con cũng chẳng đơn giản chút nào. Cha mẹ thấm nền giáo dục “Ðông Phương” (tinh hoa cũng được, hủ lậu cũng được) từ tóc xuống chân.

Con thì chưa đầy 4 tuổi đã ảnh hưởng nền giáo dục “nhân bản” của xứ sở Nữ Thần Tự Do cho nên đừng hòng mà lấy “quyền làm cha” mà bắt nạt nó!

Trong trường, cô giáo dạy cái gì không biết, tui chỉ biết suy nghĩ nó qua sự “vặt mắc” của nó với tui.

...

Mỗi sáng, tui vẫn thường thay quần áo cho nó đi học. Có hôm, tui vội quá, bèn nói:

- Bi tự thay đồ 1 mình nghe!

Nó nói liền:

- I can’t.

- Con lớn rồi, hơn 6 tuổi rồi, tự thay quần áo 1 mình đi!

- Six-year-old still a kidddd, not a big kiddddd. Kids just eat byself, can’t change clothessss...

- Nếu không tự thay thì cứ mặc quần áo ngủ đến trường.

- Con can’t mặc cái này đến trường, this clothes just for home, not for school...

- Không nói nữa, tự làm đi, trễ giờ rồi

- (Giọng mếu máo) Con không muốn mẹ nói that way với con. Cô nói somebody nói như vậy với ai là mean...

- Stop, không lè nhè nữa!...

- Con không có lè nhè, con just talk... (nước mắt bắt đầu nhòa nhoẹt)

- Tại sao khóc? Mẹ đánh đòn chưa mà khóc?

- Khi bị rầy thì phải khóc... Con không muốn mẹ nói với con that way again.

- Con trai không được khóc.

- Con đã nói two times. Con just a kidddd. A kid cries if somebody rầy, đó là kid kind...

- Bây giờ con muốn cái gì?

- Con muốn mẹ thương con, mẹ ôm con...

- Ok, mẹ thương con

- Nhưng mặt mẹ không có happy...

- Ôi, thôi, mẹ thương con, con thay đồ nhanh đi nghe rồi đi uống sữa (phải dịu giọng liền ngay lập tức, vừa nói gương mặt vừa phải tươi cười (?) nếu không muốn cuộc “giằng co” kéo dài tới chiều!)

...

Ui trời ơi!

Nhiều khi bực mình muốn chết, mà cũng phải thật nhẹ nhàng, nếu muốn sớm được yên thân!

Ðôi khi giận quá, nạt nó: Ði ra chỗ khác cho mẹ làm việc! Nó cũng mếu máo chạy đi, nhưng tí sau lại thập thò: Mẹ, con muốn nói với mẹ cái này! - Nói cái gì? Sao con cứ annoy mẹ hoài vậy? - Con không có annoyyyyy... Cô nói annoy that means making somebody gets angryyyy. Còn con chỉ muốn nói là con thương mẹ forever!



Thursday, April 17, 2008

Entry for April 18, 2008

Nhung guong mat nhieu chuyen nhat "Nguoi-Viet"


Monday, April 14, 2008

Entry for April 15, 2008 HÀNG BÁN ĐấU GIÁ


Câu chuyện như thế này:

Có 2 vợ chồng đến nhà tui chơi. Sau khi ra về, người vợ để quên lại cái áo khoác.

Hai ngày sau, người chồng đến để lấy áo về dùm người vợ.

Thế nhưng khi người chồng về, tui phát hiện ra là không chỉ cái áo người vợ vẫn còn nguyên ở chỗ cũ, mà tui còn lượm thêm được cái đồng hồ của người chồng!

Nhắn tin 1 lần nữa để họ đến mang đồ về nhưng không hiểu sao họ nín thinh!

Thế là tui quyết định mang từng món đồ này ra bán đấu giá (theo gợi ý của anh VÐT).

Món đầu tiên là cái đồng hồ casio này.

*Xin nói rõ là tiền kiếm được từ cuộc đấu giá này tui đem tặng hết cho “quỹ từ thiện Zen”.

mặt trước




mặt sau
Bổ sung:

Theo yêu cầu của bạn Bình và sự nghi ngờ của bạn HN, tui quyết định công bố thêm 1 điều secret của cái đổng này: khi nhìn nghiêng nghiêng thì có khi sẽ phát hiện nó như vậy nè (khi ẩn khi hiện cho nên khi nhiếp ảnh gia VĐT ‘chộp’ nó không lên hình mà mặt sau mờ mờ là vì vậy đó!)

Tuần sau mà không có người trả giá vừa í thì tui quyết định ‘donate’ nó cho nhóm người biểu tình trước báo Người Việt đó! (phụ thêm tiền cho họ mướn luật sư hoặc canh giờ ra tòa!)

Sunday, April 13, 2008

Entry for April 14, 2008 Nam Cali có thể bị động đất lớn trong vòng 30 năm


California, một tiểu bang được người Mỹ gọi là “earthquake country” (xứ động đất) cũng là tiểu bang đông dân nhất Hoa Kỳ có thể bị động đất 6.7 Richter hoặc lớn hơn trong vòng 30 năm. Sự tiên đoán quan trọng này được công bố vào ngày hôm nay Thứ Hai , 14/4/08 và trận động đất lớn này sẽ gây thiệt hại hàng tỉ đô la cộng với sự thiệt mạng của nhiều người.

Người ta cũng nói địa điểm có nguy cơ bị động đất lớn nằm ở Nam California.

Ðây là lần đầu tiên người ta có xác suất trên toàn tiểu bang về vấn đề California có thể bị động đất lớn trong vòng 30 năm.

Nam Cali là nơi tui đang ở đó. Trong vòng 30 năm, có nghĩa là bắt đầu từ ngày hôm nay, có thể là ngày mai, có thể là tuần sau, mà cũng có thể là khi tui đã gần “thất thập cổ lai... nhiều” (hết ‘hi’ rồi). Ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra...

Vui được ngày nào cứ vui, ăn được ngày nào cứ ăn, ước mơ, hy vọng gì đó thì cứ cố mà thực hiện...

Và ai có muốn nói gì với tui thì cứ nói, cho tui cái gì thì cứ cho đi nghe (không bao giờ từ chối đâu) để không thôi... :-D