Sunday, January 11, 2009

Entry for January 12, 2009 Sống không sợ hãi!

(Post lai lan nua, buc minh yahoo qua!)

Cảm nghĩ về triển lãm “Nghệ thuật lên tiếng”

Không phải là dân học art và gần như mù về art, nên tôi đến với triển lãm Art Speaks (Nghệ thuật lên tiếng) của VAALA (Vietnamese American Arts & Letters Association) trong tâm thế của người ủng hộ, cổ vũ cho bạn bè mình.

Điểm xuất phát cho cuộc triển lãm mang đầy màu sắc chính trị này bắt đầu từ cuộc tranh luận và tiếp theo là cuộc biểu tình chống nhật báo Người Việt khi trong giai phẩm báo Xuân 2008 của NV có đăng bức hình về tác phẩm nghệ thuật sắp đặt “cái chậu làm nail” có màu sắc lá cờ vàng 3 sọc đỏ của họa sĩ Huỳnh Thủy Châu.

Vấn đề đặt ra của những người làm nghệ thuật là “Đâu là nơi chính trị chấm dứt và nghệ thuật bắt đầu?”, bởi từ lâu trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, hay nói cụ thể hơn là ngay vùng đất mà tôi đang sống, chính trị nghĩa là “chống Cộng” hoặc “thân Cộng” và nhãn hiệu “chống Cộng” là nhãn hiệu duy nhất được chấp nhận trong cộng đồng này. Thêm nữa, tất cả những gì thuộc về nghệ thuật có dính đến màu vàng và đỏ đều dễ bị liệt vào hàng “nhạy cảm”.

Với tâm tình đó, cuộc triển lãm này muốn để cho mỗi nghệ sĩ được tự do nói lên quan điểm nghệ thuật, chính trị của họ, cố thoát ra khỏi sự kiểm duyệt đôi khi rất lố bịch của những người “có trách nhiệm” ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ.

Đến với cuộc triển lãm này, tôi không những chỉ được nhìn thấy nỗi bức xúc của người họa sĩ về “bi kịch lớn nhất của dân tộc tôi là sự phí phạm về nhân mạng” qua tác phẩm Seed of Life (tạm dịch: Mầm sống) của Nguyễn Trọng Khôi kể về những đau thương mất mát của những người đã vượt biển ra đi tìm tự do sau ngày 30 tháng 4; mà tôi còn bắt gặp cả hình ảnh của cờ đỏ sao vàng, chân dung của HCM không phải trong cái nhìn phản cảm như tôi vẫn thường thấy quanh đây mà là một thái độ trân trọng hoài cổ trong tác phẩm “Thuc Duc” của Brian Doan.

Hay tác phẩm “Open it up” (tạm dịch: Cởi mở) của Huỳnh Thủy Châu với 2 màu chủ đạo vàng và đỏ là hình ảnh những chiếc hộp mở nắp, đan xen trên đó là những con chữ trong hai bài quốc ca của nước Việt Nam cộng hòa và nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hòa lẫn vào nhau. Châu nói “Bằng tác phẩm của mình, tôi muốn diễn tả cá nhân tôi, một người Việt Nam đến từ hai nền chính trị khác nhau và tôi tự hào về cả hai.”

Tình cảm chính trị của Huỳnh Thủy Châu đối với Việt Nam cũng chính là cách cảm cách nghĩ của chính tôi và một số không ít bạn bè tôi trên mảnh đất không đội trời chung với cộng sản này.

Chúng tôi thuộc thế hệ lớn lên và trưởng thành dưới chế độ cộng sản. Chúng tôi cũng có một trái tim và một cái đầu để biết thương, biết ghét, biết cảm thông, biết chia sẻ với những vinh nhục, những được mất của quê hương mình. Cho dù nơi đó vẫn còn nghèo nàn, còn lạc hậu với nhiều những nghịch lí, những bất công, nhưng chúng tôi vẫn yêu tha thiết mảnh đất mình đã sống đã lớn lên từ thời thơ ấu qua tuổi thiếu niên đến lúc vững vàng vào đời, dẫu có lúc đắng cay tủi nhục, dẫu có lúc trào nước mắt bởi sự kì thị khi mang trên người cái lí lịch không trong sạch của gia đình đã “có công với ngụy”.

Chúng tôi đến với miền đất được xem là thiên đường của tự do nhân loại khi đã bước qua tuổi 30. Và dẫu giờ đây thêm một lần nữa chúng tôi lại bị kì thị ngay chính đồng hương của mình bởi chúng tôi đã khoác trên người chiếc áo của kẻ “trưởng thành dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” nhưng chúng tôi tự biết mình có đủ tri thức và tỉnh táo để tiếp nhận và chọn lọc tiếp những điều đúng sai về lịch sử dân tộc mình. Chúng tôi biết trân trọng một quá khứ đã qua, trân trọng một thế hệ cha ông đã phải triền miên sống trong tiếng súng tiếng bom của một quốc gia chưa có độc lập. Chúng tôi biết khóc cho những mất mát đau thương của những người cùng tiếng nói màu da đã từng bất chấp mạng sống để ra đi mong tìm hai chữ tự do trước là cho chính mình, sau cho quê hương.

Chúng tôi tiếp thu cả hai nền văn hóa và chính trị đó trong một cái nhìn cởi mở và bao dung. Trong lòng chúng tôi không có ranh giới của những hận thù cách biệt, không có chỗ cho những định kiến hẹp hòi. Chúng tôi cảm nhận cái hay cái đẹp, cái đúng cái sai bằng con mắt và tấm lòng của một người Việt Nam, một đứa con Việt Nam cùng mẹ cùng cha.

Vâng, chúng tôi mở rộng lòng mình và dang cả hai tay cho cả bên này và cả bên kia chỉ bởi một điều: chúng ta là người Việt Nam.

***

P/S: Đúng ra bài tôi đã kết thúc ở đây. Nhưng tôi muốn nói thêm một điều: ngay khi tôi viết entry này, ngoại trừ blog của Blosavik (bằng tiếng Anh) và bài đăng trên báo LATimes (báo Mỹ thì đương nhiên cũng bằng tiếng Anh) thì còn lại chưa có bất kì tờ nhật báo tiếng Việt nào có bài viết về cuộc triển lãm này. Chỉ mới có lời kêu gọi người ta đến biểu tình vì “chúng dám treo cả cờ đỏ sao vàng trong triển lãm” trên đài phát thanh.

Nghĩ mà buồn!

Nhưng tôi tin ở bạn bè tôi. Tôi ngưỡng mộ sự dám nghĩ và dám làm của họ: bước qua những trò tiểu nhân bỉ ổi, những suy nghĩ hẹp hòi nông cạn để sống mà không sợ hãi! Living Without Fear!


Thu Duc - Brian Doan

Open It Up - Chau Thuy Huynh


Untitled - Steven Toly ************ By Land, Air or Sea - Steven Toly


Yours - Vu Hoang Lan (Sorry tac gia vi chi chup duoc co 1 goc thoi!)

Một người đến xem và ghi lại cảm tưởng như thế này! (Ảnh: Hạo Nhiên)

****

Update 1:

Có lẽ nên nói như thế này cho công bằng: thực ra trong số báo ra ngày Thứ Năm 8 tháng 1, tuần báo Việt Weekly đã có bài viết về cuộc triển lãm này ngay trước ngày khai mạc của tác giả Vũ Hoàng Lân. Nhưng như ở trên đã có nói, chưa có tờ nhật báo nào đề cập đến triển lãm này ngay và sau khi khai mạc, mặc dù trên các diễn đàn chống Cộng như Take2tango hay website của Thanh Niên Cờ Vàng đã phát pháo rất nhiều. Thêm nữa, VHL cũng là họa sĩ có tác phẩm trong triển lãm nên không kể là khách quan.

Update 2:

Bai cua VQHN tren BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2009/01/090113_fob.shtml

Bai cua Vu Hoang Lan tren Viet Weekly: http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw9n02/ngheThuat.html

Saturday, January 10, 2009

Entry for January 11, 2009

Điều quan trọng và cần thiết nhất, đặc biệt đối với một nhà văn, theo tôi là dám vượt qua nỗi sợ để tác phẩm của mình đến với người đọc được như là chính nó với tất cà những suy nghĩ thật, những sáng tạo thật. (Nguyễn Viện)

(busy rồi, chút nữa viết tiếp vậy)

Entry for January 10, 2009 a busy day




Hôm nay là một ngày bận rộn suốt từ lúc dậy cho đến tối.

Đi chích ngừa cho Ti.

Đi đến trường học võ của Bi.

Đi ăn sáng với họa sĩ Lún.

Đi coi triển lãm của Lún.

Đưa Lún đi xem nơi người ta biểu tình Lún và lạng 1 vòng chợ hoa Phước Lộc Thọ.

Đi dự chương trình kỷ niệm 30 năm thành lập báo Người Việt.

Đi xem triển lãm “Nghệ thuật lên tiếng” của VALAA tiếp.

Có nhiều cái hay, nhiều suy nghĩ, nhưng ngày mai mới có thể viết. Giờ mệt quá rồi!

À, chỉ có cái kiểu cắm hoa đầy nghệ thuật này là copy được liền nè, hehe!

Wednesday, January 7, 2009

Entry for January 08, 2009 Có bao giờ em hỏi...

Những câu thơ hay như vầy nỡ nào bị Hội Nhà Văn cắt phén đi khi kiểm duyệt nhỉ?

“Tổ Quốc ta nơi nào cũng đẹp

Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau

Sông là máu đừng đem mua bán

Núi là xương đừng lấy đổi trao”

(Phan Ðắc Lữ)

Nhà thơ Bùi Minh Quốc* bị bắt khi một mình “lơn tơn” lên ải Nam Quan và thác Bản Giốc để tìm hiểu thực hư “tin đồn” cũng “ngỡ ngàng” bởi cửa ải và ngọn thác đã bị biến vào lãnh thổ Trung Hoa.

Thế mới biết làm sao mà Hội Nhà Văn lại có thể để nguyên những câu thơ “bi phẫn” như vậy được!

Thôi thì bạn bè mình ai dạy Văn cứ chép những câu này để dành mai mốt dạy Sử vậy!

*Bùi Minh Quốc là tác giả của bài “Có khi nào” mà nhiều lứa học trò vẫn chép truyền nhau:

Có khi nào trên đường đời tấp nập

Ta vô tình đã đi lướt qua nhau

Bước lơ đễnh chẳng ngờ đang để mất

Một tâm hồn ta đã đợi từ lâu

Entry for January 07, 2009 chuyện nội qui

Ði loay quanh một vòng, quay về kể chuyện cho nghe nè:

1. Chuyện cái tóc:

Khởi sự từ vụ Sóng Nhỏ đi nhuộm tóc, nghe nói bị “phản ứng dữ dội” mà chả biết ai phản ứng: bạn bè, chồng con hay nhà trường hay chi bộ. Chỉ biết cuối cùng là bạn Sóng phải đi lấy lại cái đầu đen như trước giờ! Coi như làm mới được 2 lần cũng có hiệu quả giảm stress.

Nhớ hôm hè về VN, mấy đứa học trò kể qui định của trường không được nhuộm tóc, uốn tóc. Thế là Little Windy với mái tóc xoăn tự nhiên mà tớ còn phải mê tít bị giám thị bắt xuống làm kiểm điểm về cái tội có cái đầu quăn. Tội nghiệp bé phải lôi thêm bạn lớp trưởng xuống để cam kết đó là ‘tóc thiệt’ chứ không có uốn! Khốn khổ học trò tui!

.

2. Chuyện giầy dép:

Cả 11 năm đi dạy học có bao giờ bạn Lan được làm chủ nhiệm đâu nên cũng không hiểu hết tất cả nỗi khổ của người chủ nhiệm. Nhớ lần thấy có mấy thầy cô bảo lên đo giày học sinh trong tiết chủ nhiệm, tớ ngạc nhiên: đo giày là sao? Mr. Thành bảo: thì xem nó có mang giày cao quá 5 phân không? WHAT????

Thì ra là nội qui của trường là nữ sinh mặc áo dài không được mang giày cao quá 5 phân (5cm), không biết là sợ nó cao hơn cô giáo hay sợ nó té lọi giò mà chỉ biết nếu giám thị đi kiểm tra thấy vi phạm thì sẽ trừ điểm thi đua của lớp, thế nên mới có chuyện thầy cô đo giày nữ sinh!

Trời ạ, chẳng trách sao có lần trời mưa nước ngập xâm xấp, tớ vừa kéo tà áo, vừa kéo ống quần xích lên 1 chút cho đừng dính nước, thầy A trông thấy cười cười nói: NL vi phạm nội qui nghe! Hehehe, nội qui cho học trò thôi thầy ơi, giày em cao có hơn 1 tấc à!

.

3. Chuyện cô Lan:

Nhớ có lần kể chuyện hồi xưa đi dạy cho người bạn nghe, nghe xong bạn bảo cô giáo quái vậy sao học trò lại mê? Hehe, ai biết!

Ngày đầu năm nhận lớp, chả bao giờ cô Lan dạy, chỉ nói chuyện chơi thôi. Trong muôn vàn chuyện để nói, thế nào cũng nhắc học trò 2 chuyện: thứ nhất, nam sinh không được để móng tay dài, trừ ai đang học đàn; thứ hai khi di chuyển trong lớp không được nghe tiếng giày dép lẹt xẹt! Eo ôi, kì quá vậy cô. - ừ, vậy đó!

Thế là có hôm gọi học trò lên trả bài, có đứa phải vòng lên vòng xuống 3, 4 lần vì cái tội cứ kéo lê đôi giày, có đứa thì bước bằng mũi chân thôi để không nghe tiếng, lại có đứa kêu tới tên thế là nó cúi xuống tháo giày ra đi bằng chân không cho lẹ! Trời hỡi, 49 gặp 50 là vậy! Cô không có qui định chuyện đi chân không!

Còn móng tay hả? báo trước về cắt móng tay sạch sẽ đi nghe, kì sau kiểm tra, đứa nào không cắt là cô cắt đó. Tới giờ, con gái được miễn, con trai để 2 tay lên bàn. Đứa nào móng dài, cầm cái bấm móng tay bấm cái “cắt” vài ngón, còn lại về nhà tự cắt tiếp! Vậy mà có đứa sợ, đưa tay lên miệng để cắn móng tay! Bị cóc thêm 1 cái về tội mất vệ sinh! Có đứa ngồi rên rỉ: em đang học trung học chứ có phải lớp mẫu giáo đâu trời! - mẫu giáo hay 12 gì không cần biết, nhưng ngồi trong lớp cô Lan là phải chịu vậy đó! Mà học trò 12 thì cũng đâu có hiền: có đứa xòe cả 2 bàn tay: cô cắt dùm em luôn đi cô! - Đừng hòng!

Nói chứ đương nhiên đó là ngày cả cô và trò đều vui vì có phải dạy và học đâu, bận cắt móng tay rồi!

Hehehe, ngẫm lại không chỉ nội qui trường quái đản mà mình cũng có những qui định quái đản thiệt!

Làm học trò sao mà khổ!

Mà làm giáo viên cũng khổ làm sao!

Tuesday, January 6, 2009

Entry for January 07, 2009 “Văn hóa uống rượu” của người Việt Nam xưa và nay

“Văn hóa uống rượu” của người Việt Nam xưa và nay

Nam Sơn Trần Văn Chi

Ðọc bài này thấy hay hay, rinh về đây để dành, mặc dù nói chuyện rượu bia thì bạn Lan mù trất. Ðã có rất nhiều người không tin là mình không hề biết uống rượu, còn bia thì khi nào cảm thấy khát cháy cổ thì nếu có một ly bia đầy nước đá thì cầm uống một hơi... như uống trà đá thì thấy đã khát vô cùng! Chỉ vậy thôi

Nhớ hồi xưa những lần theo mấy sếp đi dự tiệc tùng với ‘cấp trên’ từ Long An ra tới Hà Nội, mỗi khi bị ép phải uống (quái thiệt, sao cứ phải ép khi người ta không thích, hoặc không biết nhỉ?) thì bao nhiêu sếp M. thầu hết với lý do rất dễ thương: Ðừng ép NL, nó vừa là đồngnghiệp vừa là học trò tui, để tui uống thay nó!

Chén vui nhớ buổi hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Thức uống của người Việt mình chỉ có rượu và trà.

Ngày xưa các nhà Nho mời rượu nhau gọi là “Chén tạc, chén thù”. Chủ rót rượu mời khách gọi là “tạc”, khách đáp lễ gọi là “thù”. Trong các cuộc vui có uống rượu, người xưa thường đọc thơ, bình thơ, nên có chữ “bầu rượu, túi thơ”.

Ðua chi chén rượu câu thơ

Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao

(Nguyễn Trãi, Gia Huấn ca)

Ngày xưa rượu trước tiên dùng trong lễ nghi: vô tửu bất thành lễ. Trong đời thường, rượu trong tiệc tùng, ăn uống, bạn bè gọi là nhậu. Người đàn ông Việt Nam xưa nay tự cho rằng Nam vô tửu như kỳ vô phong, và lắm người tự hào mình là đệ tử của Lưu Linh, một nhân vật văn học nổi tiếng về tửu lượng.

[Lưu Linh: Người đời Tấn (210-270), quê đất Bái (nay thuộc Từ Châu, Giang Tô). Là một trong “Trúc Lâm thất hiền”: Kê Khang , Nguyễn Tịch, Sơn Ðào , Hướng Tú, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Vương Nhung.]

Cho nên nói không sợ quá lời là rượu thuộc phạm trù văn hóa Việt Nam!

Việt Nam là dân tộc có truyền thống uống rượu. Người Việt Nam uống rượu khi ăn, mang ý nghĩa tương sinh hài hòa, thuận theo nguyên lý “âm dương phối triển” của Phương Ðông.

Rượu Ta rượu Tây

Rượu ta - quốc tửu, là rượu trắng, nấu bằng gạo/nếp thơm, đựng trong chai, đậy nút bằng lá chuối, bằng nút “cặt bần”, không nhãn hiệu, không ghi nơi sản xuất. Rượu trắng được chưng cất theo phương cách thủ công trong dân gian có từ lâu đời rồi. Nên sách Lãnh Nam trích Quái mới viết: “Dân ta lấy gạo làm rượu”; còn sứ thần nhà Tống đi sứ qua nước ta về có nói rằng: “Lê Hoàn vừa hát vừa uống rượu...” (Lê Hoàn là người đánh thắng giặc Tống, lên làm vua tức Lê Ðại Hành 980-1005).

Theo dòng lịch sử, rượu ngon nổi tiếng của ta là rượu làng Vân (Bắc Ninh), Nguyên Xá (Thái Bình), Trương Xá (Hưng Yên), Nga Mi (Hà Tây), Quảng Xá (Thanh Hóa), Bắc Hà (Lào Kai), Kẻ Diên (Quảng Trị), Phụng Hiệp (Cần Thơ), Gò Ðen (Long An), Củ Chi Hóc Môn (Sài Gòn-Gia Ðịnh), vân vân. Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, rượu Kim Long ở Hải Lăng, Quảng Trị ngon hơn hết.

Hiện nay Việt Nam có bốn loại rượu trắng ngon nổi tiếng là rượu làng Văn xứ Bắc, Kim Long ở Quảng Trị, Bàu Ðá Bình Ðịnh và đế Gò Ðen Long An.

[Tên gọi rượu đế trong Nam xuất xứ từ chuyện người dân giấu rượu lậu dưới cây đế, sợ Tàu Cáo phạt. Cây đế là một loài cây giống cỏ năn, cỏ lác, cỏ tranh, lau sậy... mọc cao khỏi đầu. Cây đế tên khoa học Saccharum spontaneum, có thân cứng nhỏ, lá dày cứng cắt rất đau, mọc thành bụi hoang có tốc độ mọc rất nhanh, có nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long.]

Rượu đế Gò Ðen, Củ Chi còn gọi là nước mắt quê hương, nấu bằng nếp, có nồng độ cao. Rượu đế được đánh giá là ngon nhứt phải trong vắt, rót sủi tăm bọt nhỏ lăn tăn, uống có mùi vị thơm, ngọt, cay, có độ cồn tương đối cao từ 39 đến hơn 45 độ, uống vô thấy êm dịu và không gây nhứt đầu chóng mặt. Theo dân gian ngày xưa rượu cho vào chai hạ thổ, chôn xuống đất 100 ngày có màu cánh kiến, uống ngon hơn rượu thường.

Rượu đế trong miền Nam thường uống trực tiếp, hay dùng ngâm với các loại thuốc Bắc thuốc Nam, theo các bài thuốc gia truyền nổi tiếng như Minh Mang toa.

Rượu đế ngâm động vật hoặc một phần của động vật được ưa chuộng như rắn, tắc kè, bìm bịp, hổ cốt, cá ngựa... Các loại động vật hầu hết được ngâm sống, sơ chế hay nấu chín. Rượu rắn Phụng Hiệp Cần Thơ có tiếng là ngon từ năm 1960 tới nay vẫn còn.

Khi người Pháp mới đến Việt Nam, họ cấp phép cho dân nấu rượu cổ truyền, khuyến khích người Việt uống rượu để thâu thuế. Ðến khi các nhà máy sản xuất rượu ra đời, Pháp ra lịnh cấm dân nấu rượu, ngừng cấp giấy phép nấu rượu gia đình, thành lập tổ chức gọi là “Tàu cáo”, một loại thanh tra thuế, chuyên đi bắt phạt dân nấu rượu.

Nhà có môn bài bán rượu của công ty rượu Ðông Dương (Société franậaises des Distilleries de l'Indochine) treo bản trước cửa có hai chữ “RA” (Régie d'Acool - Sở rượu). Rượu của công ty rượu Ðông Dương, dân mình gọi là rượu Phông-tên, bởi công ty do A.Fontaine thành lập năm 1901, rượu nầy nấu bằng gạo bắp lạt hơn rượu ta, nhưng giá cao 16 xu mỗi chai so với rượu ta chỉ có 14 xu.

Người Pháp mang vào Việt Nam ngoài súng đạn, còn có rượu chát.

Nhiều người mình bắt chước cách uống rượu Tây. Như rót rượu vào ly phải ở mức 1/2-2/3 ly để giữ được hương thơm của rượu, như khi uống rượu khai vị và rượu tráng miệng chỉ nên dùng với lượng vừa phải, vân vân.

Người Việt cũng học nguyên tắc dùng rượu Tây là “rượu nào thức ăn nấy”.

Như:

- Rượu chát đỏ: uống buổi tối thường là rượu nguyên chất không pha, đôi khi hơi chát, được dùng cho những bữa tiệc thịnh soạn hoặc với những thức ăn như thịt bò, thịt heo, thịt rừng, vịt, ngỗng và mì xào.

- Rượu chát trắng: nhẹ hơn và có vị thơm, có thể dùng nguyên chất, vị chát hoặc ngọt và rất thơm. Nên dùng rượu chát màu trắng với các loại thức ăn như: gà ta, gà tây, cá, tôm cua sò, thịt jambon và thịt bê.

- Rượu hồng: nhạt hơn rượu đỏ, có thể dùng nguyên chất hoặc được pha ngọt. Những rượu này dùng với jambon, gà nướng, tôm sò cua, thức ăn nhanh và những món ăn buffet.

- Rượu khai vị: dùng như rượu cocktail hoặc dùng trước bữa ăn để làm tăng thêm sự ngon miệng. Rượu cocktail nhẹ thường được làm từ trái cây.

- Rượu tráng miệng: dùng sau bữa ăn là mạnh hơn và ngọt hơn rượu dùng trong bữa chánh. Có thể chỉ dùng rượu này không hoặc dùng thêm với trái cây, bánh nướng, phô-mai tráng miệng, bánh cake hoặc bánh quy.

Lời chúc rượu

Việt Nam mình là dân tộc có truyền thống uống rượu nhưng lại có rất ít “lời những lời chúc rượu” như các nước Tây Phương!

Lời chúc rượu theo tiếng Anh là toast, là những lời nói trước khi chạm ly và uống rượu trong những dịp lễ, những cuộc gặp gỡ chánh thức cũng như trong những cuộc vui trong đời sống thường.

Trong các buổi tiếp đón, chiêu đãi chánh thức, lời chúc thường được nói sau khi đã dùng món tráng miệng, thường là khoảng 10-15 phút sau khi buổi tiệc bắt đầu. Thường thì chỉ nâng ly chớ không chạm. Nếu chạm ly thì đàn ông luôn để ly của mình thấp hơn ly của phụ nữ. Trong khi nghe lời chúc thì không nên nói chuyện, không rót rượu. Người nói lời chúc thường là đứng, tất cả mọi người giữ ly rượu trong tay và cũng thường là đứng.

Phụ nữ, nếu không phải là cô dâu, thì thường là tiếp nhận lời chúc bằng cách mỉm cười, ngồi và đôi mắt nhìn xuống trong khi tất cả đều đứng. Phụ nữ giữ ly rượu trong tay mình và chưa uống, nếu tất cả chưa uống hết. Làm ngược lại sẽ được coi là người không khiêm tốn, không biết cách uống rượu!

Những lời chúc rượu quan trọng phải hướng về những nhân vật quan trọng. Thông thường là uống hết 100 phần trăm. Trong những buổi tiệc long trọng, đôi khi người ta uống xong, ném ly vào đá hoặc ném xuống sàn nhà.

Nói chung, từ chối uống rượu để chúc cho ai đấy, được hiểu là thiếu tôn trọng đối với người đó. Nếu một người không thể uống được thì cũng nên làm ra vẻ như mình đang uống. Nếu nâng ly nước lã thì không được nói lời chúc.

Chúc rượu tiếng Anh: Cheers!

Tiếng Pháp: Santé!

Nếu nói tiếng Việt thì thường người ta nói: Chúc sức khỏe! Bình dân thì nói trăm phần trăm. Vô! Vô!...

Từ đâu mà có lời chúc rượu?

Lời chúc rượu có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuở đó người ta quan niệm rằng ăn uống-ẩm thực bao gồm cả ngũ quan là thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác và thính giác. Thông thường khi ta uống rượu thì MÀU rượu mắt đã nhìn, MÙI rượu mũi đã ngửi, Vị rượu lưỡi đã nếm, bàn tay RỜ ly rượu... nhưng THANH rượu tai chưa nghe.

Thế là cần phải chạm ly/cốc để rượu phát ra âm thanh của nó. Người ta còn nói rằng cùng một cái ly, nhưng với những loại rượu khác nhau, khi chạm ly ta sẽ nghe ra những “tiếng rượu nói” khác nhau! Không biết đúng vậy không?

Ngày nay, những lời chúc rượu không quá ư lịch thiệp, cao kỳ như người xưa nữa, mà thường là ngắn gọn hơn, hoặc là vui nhộn nhiều hơn. Trong những cuộc vui, người nói lời chúc rượu có thể là đọc một câu thơ, một câu danh ngôn hoặc là kể một câu chuyện vui, một tình huống vui nhộn nào đấy để làm cái cớ bắt vào lời chúc. Nói chung, tính chất nghiêm túc hay vui nhộn của lời chúc phụ thuộc vào tình huống của cuộc vui và đối tượng mà lời chúc hướng đến.

***

Việt Nam là dân tộc có truyền thống uống rượu lâu đời. Nhưng chúng ta không phải là dân tộc có truyền thống nói lời chúc rượu như Tây Phương. Dầu vậy từ xa xưa người Việt đã có câu “Chén tạc, chén thù”. Chủ chúc khách gọi là “tạc”, khách chúc đáp lễ gọi là “thù”.

Ngày nay hầu như tiệc tùng nào người Việt mình cũng đều có dùng rượu. Khi chúc nhau người mình nói: Chúc sức khỏe!

Người miền Nam thì thường nói “Trăm phần trăm”. Hoặc vừa nâng ly vừa nói: Vô! Vô!... Cung cách uống rượu kiểu nầy được cả nước hưởng ứng làm theo.

Entry for January 06, 2009

ÐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

Quang Dũng (1948)

Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao lần quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Vầng trán em vương trời quê hương

Mắt em dìu dịu buồn tây phương

Tôi nhớ xứ Ðoài mây trắng lắm

Em có bao giờ em nhớ thương?

Từ độ thu về hoang bóng giặc

Ðiêu tàn thôi lại nối điêu tàn

Ðất đá ong khô nhiều ngấn lệ

Em có bao giờ lệ chứa chan?

Mẹ tôi em có gặp đâu không

Những xác già nua ngập cánh đồng

Tôi cũng có thằng em còn bé dại

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông.

Ðôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều lưu lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây.

Cho nhẹ lòng nhớ thương

Em mơ cùng ta nhé

Bóng ngày mai quê hương

Ðường hoa khô ráo lệ.

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng

Sông Ðáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa

Ðã hết sắc mầu chinh chiến cũ

Còn có bao giờ em nhớ ta?